Luật Thuế GTGT sửa đổi 2025 mang đến nhiều thay đổi quan trọng, tác động trực tiếp đến doanh nghiệp, hộ và cá nhân kinh doanh. Các điểm mới tập trung vào mở rộng đối tượng được khấu trừ, nâng ngưỡng doanh thu không chịu thuế và đơn giản hóa điều kiện hoàn thuế. Nắm rõ các nội dung này giúp người nộp thuế áp dụng đúng và hạn chế rủi ro khi thực hiện nghĩa vụ thuế.
| Ngày ban hành | 11/12/2025 |
| Hiệu lực thi hành | 01/01/2026 |
| Nội dung | File LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG |
| Người ký | Chủ tịch Trần Thanh Mẫn |
| Người ban hành | Chính phủ |

1. Bổ sung đối tượng không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT nhưng vẫn được khấu trừ thuế GTGT đầu vào
Theo quy định cũ tại khoản 1 điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng năm 2024, sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng.
Tuy nhiên, căn cứ điểm a khoản 1 điều 1 Luật sửa đổi bổ sung 1 số điều Luật Thuế giá trị gia tăng 2025 có sửa đổi, bổ sung khoản 1 điều 5 Luật Thuế GTGT 2025 như sau:
Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã mua sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác thì không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng nhưng được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.
2. Nâng ngưỡng doanh thu không chịu thuế GTGT lên 500 triệu đồng đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh
Theo điểm b khoảng 1 điều 1 Luật Thuế GTGT 2025 số 149/2025/QH15, bổ sung khoản 25 điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 như sau:
Hàng hóa, dịch vụ của hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh có mức doanh thu năm từ 500 triệu đồng trở xuống; tài sản của tổ chức, cá nhân không kinh doanh, không phải là người nộp thuế giá trị gia tăng bán ra; hàng dự trữ quốc gia do cơ quan dự trữ quốc gia bán ra; các khoản thu phí, lệ phí theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí.
Theo quy định cũ, hàng hóa, dịch vụ của hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh có mức doanh thu hằng năm từ 200 triệu đồng trở xuống; tài sản của tổ chức, cá nhân không kinh doanh, không phải là người nộp thuế giá trị gia tăng bán ra; hàng dự trữ quốc gia do cơ quan dự trữ quốc gia bán ra; các khoản thu phí, lệ phí theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí.
3. Quy định lại thuế suất GTGT đối với phế phẩm, phụ phẩm, phế liệu thu hồi trong quá trình sản xuất
Theo khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng năm 2025, quy định tại khoản 5 Điều 9 Luật Thuế GTGT 2024 đã được sửa đổi, làm rõ cách áp dụng thuế suất đối với phế phẩm, phụ phẩm, phế liệu phát sinh trong quá trình sản xuất. Cụ thể, luật quy định:
Phế phẩm, phụ phẩm, phế liệu được thu hồi trong quá trình sản xuất thì áp dụng mức thuế suất của mặt hàng phế phẩm, phụ phẩm, phế liệu đó.
Trước khi được sửa đổi, khoản 5 Điều 9 Luật Thuế GTGT 2024 quy định: “Sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi, dược liệu thì áp dụng thuế suất giá trị gia tăng theo mức thuế suất quy định cho sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản.” Đồng thời, pháp luật cũng xác định rằng phế phẩm, phụ phẩm, phế liệu được thu hồi để tái chế, sử dụng lại khi bán ra thì áp dụng mức thuế suất theo thuế suất của mặt hàng phế phẩm, phụ phẩm, phế liệu bán ra.
Như vậy, quy định mới đã thống nhất nguyên tắc xác định thuế suất GTGT đối với phế phẩm, phụ phẩm, phế liệu thu hồi trong quá trình sản xuất, thay vì gắn với mục đích sử dụng hoặc nguồn gốc sản phẩm như trước đây, giúp doanh nghiệp dễ áp dụng và hạn chế vướng mắc trong thực tế hạch toán thuế.
4. Bãi bỏ quy định người mua chỉ được hoàn thuế khi người bán đã kê khai và nộp thuế
Theo quy định tại điểm c khoản 9 Điều 15 Luật Thuế GTGT 2024, để được hoàn thuế GTGT, doanh nghiệp phải đáp ứng điều kiện: người bán hàng hóa, dịch vụ phải đã kê khai và nộp thuế GTGT đầu ra theo đúng quy định đối với các hóa đơn đã xuất cho doanh nghiệp đề nghị hoàn thuế.
Điều này có nghĩa là việc hoàn thuế của doanh nghiệp mua (người khấu trừ thuế đầu vào) bị phụ thuộc hoàn toàn vào hành vi kê khai, nộp thuế của doanh nghiệp bán (người khai thuế đầu ra). Nếu người bán chưa kê khai hoặc chưa nộp thuế, doanh nghiệp mua sẽ không được hoàn thuế mặc dù đã có đầy đủ hóa đơn, chứng từ hợp lệ.
Khoản 3 Điều 1 Luật Thuế GTGT sửa đổi 2025 đã chính thức bãi bỏ quy định tại điểm c khoản 9 Điều 15 nêu trên. Theo đó, điều kiện để doanh nghiệp được hoàn thuế GTGT chỉ còn 02 yếu tố:
(1) Doanh nghiệp thuộc các trường hợp được hoàn thuế theo quy định của pháp luật, đã nộp đủ thuế GTGT đầu vào theo phương pháp khấu trừ và có đầy đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp, hợp lệ;
(2) Doanh nghiệp không bị xử phạt vi phạm nghiêm trọng về hóa đơn, thuế trong khoảng thời gian gần trước thời điểm đề nghị hoàn thuế.
Quy định mới loại bỏ điều kiện ràng buộc về việc người bán phải kê khai, nộp thuế. Doanh nghiệp mua giờ đây được hoàn thuế độc lập, chỉ cần đáp ứng điều kiện về hóa đơn hợp lệ và không vi phạm nghiêm trọng về thuế.
5. Bãi bỏ một số quy định liên quan
- Khoản 3 Điều 12 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 về phương pháp tính trực tiếp thuế GTGT của hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật thì nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khoán thuế quy định tại Luật Quản lý thuế 2019.
- Điểm c khoản 9 điều 15 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 về hoàn thuế GTGT về điều kiện của cơ sở kinh doanh thuộc trường hợp hoàn thuế tại Điều 15 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024: Người bán đã kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng theo quy định đối với hóa đơn đã xuất cho cơ sở kinh doanh đề nghị hoàn thuế.